NEWS

Tin tức

Ô nhiễm hệ thống sông sài gòn - đồng nai (Phần 1)

Hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai là nguồn cung cấp nước chính và đảm bảo cho khoảng 20 triệu người. Với vai trò quan trọng như vậy nhưng thay vì được bảo vệ thì ngược lại, mỗi ngày hệ thống sông này đang phải tiếp nhận hàng trăm tấn chất thải ô nhiễm.
Đọc thêm...

Ô nhiễm hệ thống sông sài gòn - đồng nai (Phần 2)

Thực trạng ô nhiễm tại sông Sài Gòn - Đồng Nai được đề cập liên tục từ năm 2003. Đã có rất nhiều cuộc họp giữa các tỉnh thành được tổ chức; có quá nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia và cũng có quá nhiều lời hứa, cam kết giữa các tỉnh thành nhằm thể hiện quyết tâm phải bảo vệ sông Sài Gòn - Đồng Nai. Thế nhưng đến nay, nước sông Sài Gòn - Đồng Nai vẫn tiếp tục gia tăng mức độ ô nhiễm.

Đọc thêm...

Ô nhiễm hệ thống sông sài gòn - đồng nai - Phần 3

Thời điểm năm 2003 được xem là dấu mốc quan trọng khi hai dòng sông Nhuệ và Đáy (khu vực phía Bắc) chính thức bị khai tử vì ô nhiễm. Lo ngại tình trạng tương tự sẽ diễn ra trên sông Sài Gòn - Đồng Nai, một hội nghị tập hợp 12 tỉnh thành đã được tổ chức tại TPHCM. Chủ trì hội nghị là nguyên Bộ trưởng Bộ TN-MT Mai Ái Trực và đặc biệt là sự có mặt của 12 phó chủ tịch 12 tỉnh thành dọc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai. Hội nghị đã đạt được sự đồng thuận và thống nhất cao khi các tỉnh thành cùng ký vào bản cam kết thực hiện 7 giải pháp cấp bách nhằm cứu lấy sông Đồng Nai. 7 giải pháp này cho đến nay vẫn rất “đương thời”. Chỉ có điều, quá trình thực hiện 7 giải pháp này còn chưa đồng bộ giữa các tỉnh thành.
7 giải pháp đương thời

 

12 tỉnh thành tham gia vào thời điểm năm 2003 là TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh, Long An. Hiện nay chỉ còn 11 tỉnh thành sau khi tỉnh Đắk Lắk xin rút tên ra khỏi danh sách vì không nằm trong lưu vực có sông Đồng Nai chảy qua.
7 giải pháp mà các tỉnh thành cam kết thực hiện cụ thể là phải xử lý xong các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong danh mục quy định xử lý đến năm 2007; đánh giá tình hình môi trường các cơ sở trên địa bàn, lập danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và có kế hoạch xử lý xong, chậm nhất là đến năm 2010; không cho xây dựng các cơ sở có ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và có nguy cơ gây sự cố môi trường; các cơ sở đầu tư mới hoạt động mở rộng bắt buộc phải có đánh giá tác động môi trường và bản đăng ký đạt chuẩn môi trường theo quy định; 70% các KCN có hệ thống nước thải, bảo đảm đầu ra đạt tiêu chuẩn môi trường; xác định vị trí xây dựng khu xử lý chất thải nguy hại tập trung và tiến hành các thủ tục chuẩn bị đầu tư để có thể xây dựng vào năm 2007; tăng cường năng lực cán bộ quản lý môi trường, đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường trên từng địa bàn và tăng cường mức đầu tư cho bảo vệ môi trường ít nhất là 15% so với năm 2005.
Thế nhưng cho đến nay, ngoại trừ TPHCM đã cơ bản đã kiểm soát được tình hình gây ô nhiễm tại các khu công nghiệp và số ít tại các quận huyện. Còn lại các tỉnh thành khác, thực trạng gây ô nhiễm vẫn còn rất đáng lo ngại. Nhiều chuyên gia môi trường đã ví von, chất lượng nguồn nước sông Đồng Nai và GDP như một đường thẳng. Chất lượng nguồn nước ngày càng xấu đi, sẽ kéo theo GDP của các tỉnh phía Nam giảm xuống.
Cấp bách thực hiện giải pháp trong tầm tay
Trao đổi về giải pháp nào nhằm cứu lấy sông Đồng Nai, ông Phùng Chí Sỹ, Phó viện trưởng Viện Kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường khẳng định, để có thể cứu lấy sông Sài Gòn cần thống nhất một số yếu tố cơ bản: Quy hoạch tổng thể về quản lý sử dụng, khai thác nguồn nước và hệ thống thảm thực vật dọc hai bên bờ sông; thống nhất thông tin chung về khối lượng nước thải xả ra sông và nồng độ chất thải quan trắc được trong nguồn nước. Thông tin này cần được xây dựng và sử dụng chung cho các tỉnh thành thay vì mỗi tỉnh thành tự quan trắc và tự công bố chất lượng nguồn nước hệ thống lưu vực sông, gây bất đồng về nhận định liên quan đến chất lượng nguồn nước sông.
Đây sẽ là cơ sở để Ủy ban lưu vực hệ thống sông Đồng Nai áp dụng những giải pháp sát với thực tế và có tính khả thi cao nhằm cải thiện và bảo vệ chất lượng nguồn nước sông; cân hòa lợi ích kinh tế cho các vùng từ thượng nguồn đến hạ nguồn. Và muốn làm được điều này, cần có cấp cao đủ để có thể điều phối hoạt động kinh tế cũng như nguồn ngân sách thu được giữa các vùng.

 

 
Không dừng lại đó, ông Nguyễn Văn Phước, Viện trưởng Viện TN-MT, nhấn mạnh, trong khi chờ các giải pháp có tính vĩ mô trên, mỗi tỉnh trong khả năng của mình có thể làm ngay biện pháp ngăn chặn xả thải ô nhiễm từ hoạt động sản xuất công nghiệp ra sông Sài Gòn - Đồng Nai. Đặc tính của sông là có khả năng tự làm sạch nhưng chỉ trong một mức độ ô nhiễm nhất định. Nếu ngay từ bây giờ có thể ngăn chặn triệt để nguồn thải ô nhiễm ra sông Sài Gòn - Đồng Nai thì con sông vẫn có thể sẽ tự cứu mình được. Còn lại, các cơ quan chức năng sẽ có thêm thời gian để triển khai những giải pháp mang tính dài hơi và bền vững hơn.
Vẫn tắc lối ra cho giải pháp tổng quan
Trao đổi về việc làm thế nào để cấp bách cứu lấy sông Sài Gòn - Đồng Nai cũng như có thể triển khai ngay những giải pháp ngắn hạn và dài hạn, ông Dương Hoàng Tùng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Bảo vệ môi trường, Bộ TN-MT khẳng định, vẫn rất khó để làm. Bởi ngay trong hệ thống quản lý về môi trường còn chưa thống nhất được chức năng nhiệm vụ cụ thể thì làm sao có thể triển khai hiệu quả giải pháp ngăn chặn ô nhiễm môi trường nói chung. Đơn cử như ở cấp bộ hiện nay, có đến 6 bộ đều có chức năng quản lý về môi trường. Bộ nào cũng có thể thực hiện thanh kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính đối tượng có hành vi vi phạm môi trường.
Ngay cả Bộ TN-MT - một trong những bộ được xem là chủ quản quản lý vấn đề này cũng chỉ có cùng chức năng tương tự như những bộ khác. Do vậy, đến khi xảy ra hậu quả thì không có bộ nào chịu nhận trách nhiệm về mình. Và mọi chỉ trích của dư luận lại tập trung vào Bộ TN-MT. Bản thân bộ đã nhiều lần kiến nghị lên các cấp cần phân rõ trách nhiệm của từng bộ liên quan. Chức năng và trách nhiệm tham gia cụ thể của từng bộ ngành liên quan đến đâu. Có như vậy mới giảm được chồng chéo trong thanh kiểm tra môi trường hiện nay, Bộ TN-MT làm tốt hơn chức năng và nhiệm vụ của mình. Quan trọng hơn, để doanh nghiệp có điều kiện để cải tạo tốt hơn chất lượng môi trường sản xuất của mình.
Riêng ông Nguyễn Thái Lai, Thứ trưởng Bộ TN-MT cho biết thêm, việc xử lý doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường vào thời điểm này cũng được cân nhắc rất nhiều. Bởi nếu “siết” mạnh sẽ ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế. Do vậy, theo tôi, chưa cần phải áp dụng biện pháp xử lý mạnh hơn, các tỉnh chỉ cần thực hiện tốt vai trò quản lý, trong đó siết chặt yêu cầu các doanh nghiệp xả thải phải đảm bảo tiêu chuẩn môi trường là có thể cơ bản cải thiện và bảo vệ chất lượng nguồn nước sông Sài Gòn - Đồng Nai.
Còn về lâu dài, hiện bộ đang đề xuất Chính phủ phân công một phó thủ tướng tham gia vào Ủy ban Bảo vệ hệ thống lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai với vai trò chỉ đạo. Có như vậy mới tập hợp ý kiến và sự đồng thuận cao giữa 11 tỉnh thành. Tôi cũng hy vọng đề xuất này sớm thông qua để tạo tiền đề đẩy nhanh những giải pháp có tính bền vững để bảo vệ nguồn nước sông của 20 triệu người dân khu vực phía Nam.

Ô nhiễm hệ thống sông sài gòn - đồng nai (tiếp Phần 4)

Để cải thiện chất lượng nguồn nước sông Sài Gòn - Đồng Nai, một trong những điều cốt yếu là phải có sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều tỉnh, thành dọc lưu vực sông. Trong đó phải tìm được tiếng nói chung, sự cân bằng lợi ích phát triển kinh tế và môi trường giữa các tỉnh, thành. Đây là điều mà tỉnh, thành nào cũng biết nhưng thực hiện không dễ. Báo SGGP giới thiệu một số ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý về vấn đề này.

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai: Khắc phục xung đột lợi ích
Các tỉnh trong lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai đã liên kết thành lập Ủy ban Bảo vệ hệ thống lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai. Các địa phương về cơ bản đã xác định được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc thực hiện các mục tiêu của toàn lưu vực. Tuy nhiên, tại một số địa phương, ban chỉ đạo mới được thành lập nên chưa tiến hành họp hoặc ra văn bản chỉ đạo, điều hành việc triển khai đề án sông Đồng Nai. Bên cạnh đó, sự tham gia của các bộ, ngành vào hoạt động của Ủy ban Bảo vệ hệ thống lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai chưa chặt chẽ, nhiều địa phương chưa bố trí kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ.
Bên cạnh đó, các thành viên hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm nên việc chấp hành quy chế làm việc chưa đảm bảo; cơ chế giám sát, đánh giá của ủy ban còn hạn chế, bất cập. Tình trạng ô nhiễm môi trường trên lưu vực hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai chỉ có thể được giải quyết khi từng tỉnh, thành làm tốt vai trò, trách nhiệm của mình. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang trình Chính phủ sớm thống nhất cơ chế phối hợp giữa các tỉnh, thành phố trong lưu vực, khắc phục ngay các xung đột lợi ích cục bộ, tuyệt đối tránh tình trạng vì lợi ích của địa phương mình mà bất chấp thiệt hại về lợi ích của các địa phương khác trên lưu vực.
Không dừng lại ở đó, các bộ, ngành trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cần tích cực tham gia phối hợp chặt chẽ với các địa phương trên lưu vực trong quá trình triển khai đề án. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật; thường xuyên hơn nữa nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai.
Ông Francois Donier, Tổng Giám đốc Cơ quan Quốc tế về nước của Pháp: Tranh thủ hợp tác quốc tế
Nước tự nhiên được coi là nguồn tài nguyên vô giá đối với con người. Với các quốc gia phát triển, tài nguyên nước được đánh giá có vai trò vô cùng quan trọng, được đặt lên hàng đầu trong việc khai thác, sử dụng và quản lý với quy mô lớn. Ngược lại, đối với những quốc gia chậm phát triển hoặc các nước đang phát triển, vai trò của nước vẫn chưa được nhận thức rõ ràng, song song với điều đó là việc sử dụng lãng phí và ít có động thái để bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn khoáng sản quý báu này. Là một quốc gia nằm ở hạ lưu của nhiều con sông quốc tế, tài nguyên nước của Việt Nam bị đe dọa rất nghiêm trọng từ bên ngoài lãnh thổ.
Vì vậy, Việt Nam cần phải mở rộng, tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực như Campuchia, Lào, Thái Lan… để cùng chia sẻ nguồn nước; tham dự các diễn đàn thế giới về nước để có thể chia sẻ cách quản lý nước của quốc gia mình. Việc hợp tác về nguồn nước giữa các quốc gia sẽ hỗ trợ và thúc đẩy các cải cách cần thiết cho công tác kiện toàn tổ chức quản lý lưu vực sông của Việt Nam. Về phía Pháp, sẽ hợp tác hỗ trợ Việt Nam ở một số lĩnh vực như tăng cường thể chế quản lý tổng hợp tài nguyên nước; chuyển giao công nghệ phát triển tài nguyên nước và phòng chống ô nhiễm nguồn nước; tăng cường năng lực trong lĩnh vực thông tin và nhận thức về bảo vệ tài nguyên nước. Trước mắt, Pháp hỗ trợ Việt Nam đào tạo nhân sự cho lĩnh vực này.
Cụ thể, Pháp sẽ nhận 6 cán bộ của Việt Nam sang học tập tại Pháp. Các cán bộ Việt Nam sẽ có dịp làm việc và tương tác trực tiếp với các cán bộ chuyên môn tại các cơ quan của Pháp để thấy rõ hơn cách thức tổ chức bộ máy và công cụ pháp lý để bảo vệ nguồn nước lưu vực sông. Tuy nhiên, theo chúng tôi, điều quan trọng là Việt Nam cần sớm thống nhất chủ thể quản lý lưu vực sông. Tránh tình trạng có quá nhiều chủ thể cùng tham gia như hiện nay vì sẽ rất khó để triển khai bất kỳ chiến lược phát triển cũng như bảo vệ lưu vực sông.
Ở Pháp, các giải pháp về quản lý tài nguyên nước đã được tìm kiếm trong suốt 50 năm. Cuối cùng, chúng tôi chỉ có thể đạt được hiệu quả như mong muốn khi xây dựng mô hình quản lý chất lượng nguồn nước theo thể thống nhất của sông. Cụ thể, mô hình cơ quan quản lý lưu vực sông tại Pháp được triển khai như sau: Ở cấp quốc gia, Ủy ban Nước quốc gia do một thành viên của nghị viện chủ trì. Các thành viên còn lại bao gồm đại diện của Quốc hội và nghị viện cùng sự tham gia của các cơ quan liên quan và liên minh châu Âu. Ủy ban được các bên tham vấn về các chính sách quốc gia và khu vực liên quan đến lưu vực sông.
Ở cấp lưu vực chia theo 6 lưu vực sông. Ủy ban lưu vực sông do một quan chức địa phương được bầu chủ trì, giữ vai trò quan trọng liên quan đến các hoạt động định hướng sử dụng và bảo vệ nguồn nước. Ủy ban xây dựng và thông qua kế hoạch tổng thể cho việc phát triển và quản lý nguồn nước cho mỗi lưu vực hoặc nhóm các lưu vực; xác định các phương hướng cơ bản cho việc quản lý nguồn nước một cách cân bằng, đảm bảo chất lượng và khối lượng được các bên tham vấn về giá cả, cơ sở của thu tiền thuế nước tiêu thụ và nước thải. Ủy ban cũng được các bên tham vấn về những ưu tiên cho các chương trình hành động của Cục Nước về lưu vực sông. Cuối cùng là ở cấp chi nhánh và phụ lưu, cấp này sẽ thực hiện kế hoạch quản lý và phát triển nước của các cấp nêu trên.
Ông Michel Stein, chuyên gia về tài nguyên nước của Pháp: Cần có nguồn tài chính vững mạnh
Để có thể triển khai các dự án bảo vệ nguồn nước, mỗi quốc gia cần phải tạo được cho mình một nguồn tài chính độc lập, vững mạnh dựa trên nguyên tắc những người gây ô nhiễm và những người sử dụng nước phải trả tiền. Nguồn tài chính này có thể dựa trên sự trợ giúp của nhà nước, các tổ chức quốc tế hoặc đóng góp tài chính của các tỉnh, các hộ dùng nước được hưởng lợi trên lưu vực sông. Trong thực tế, phần lớn các tổ chức lưu vực sông trên thế giới được trích một phần nguồn thu từ thuế tài nguyên nước và phí ô nhiễm nước cho các hoạt động quản lý của mình.
Tài chính là yếu tố quan trọng để vạch ra được mục tiêu xa hơn. Xác định được nguồn tài chính chúng ta mới biết được dự án nào cần làm trước, dự án nào thực hiện sau. Ở một số khu vực kinh tế tạo ra nhiều lợi nhuận để phục vụ cho quản lý nguồn nước như thủy điện, khai thác dầu mỏ… phải có chính sách phù hợp để vận động họ tham gia. Cân đối tài chính phải thông qua các bước: dự chi, nguồn tài trợ ở đâu, ưu tiên điểm nào. Các yếu tố này không thực hiện riêng lẻ mà phải kết hợp với các kế hoạch ở từng địa phương. Để đạt được sự cân đối về tài chính phải mất 10-20 năm, vì thế tôi nghĩ nên bắt đầu ngay từ bây giờ.

Tác giả bài viết: Theo Minh Xuân, Minh Hải - sggp.org.vn

Việt Nam đối diện nguy cơ cạn kiệt tài nguyên nước

Thông điệp của ngày Nước thế giới năm 2013: "Nếu chúng ta cùng nhau chia sẻ, ai cũng có cơ hội sử dụng nước."
Đọc thêm...

Ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp - Quảng Nam

Sống chung với khói bụi, nước thải xả trực tiếp ra môi trường và các chất thải rắn độc hại... là một thực tế diễn ra từ nhiều năm nay tại một số khu dân cư sinh sống gần các cơ sở sản xuất ở tỉnh Quảng Nam.
Khu công nghiệp Bắc Chu Lai (Quảng Nam) vào thời điểm này đã có hàng chục doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. 

Ngay tại cổng chính dẫn vào khu công nghiệp là khẩu hiệu Doanh nghiệp phát triển, môi trường thân thiện, song thực tế cho thấy doanh nghiệp đã và đang phát triển nhưng vấn đề môi trường vẫn chưa thật sự thân thiện. 

Bằng chứng là người dân sống gần khu công nghiệp này rất bức xúc với tình trạng ô nhiễm môi trường từ nguồn nước thải và khói bụi thoát ra từ hoạt động sản xuất của các nhà máy.

Việc chung sống với ô nhiễm kéo dài nhiều năm nay của người dân thôn Thọ Khương, xã Tam Hiệp (huyện Núi Thành), khu vực nằm sát Khu công nghiệp Bắc Chu Lai (Quảng Nam) là một điển hình.

Nhóm phóng viên có mặt tại thôn Thọ Khương khi bà con nơi đây đang tập trung ra đồng vệ sinh đồng ruộng, chuẩn bị làm đất cho vụ sản xuất Đông Xuân 2013-2014. Khi được hỏi về vấn đề môi trường, nhiều người đã đưa nhóm phóng viên đến miệng cống xả nước từ các nhà máy thải trực tiếp ra cánh đồng Thọ Khương.

Hiện trường là miệng cống xả nước thải hình hộp, bằng bêtông cốt thép có đường kính khoảng 1,2 mét. Tại đây, nước thải đục ngầu, nhiều bọt, kèm theo mùi hôi thối từ hoạt động sản xuất của các nhà máy thải trực tiếp ra môi trường, mặc dù trong Khu công nghiệp Bắc Chu Lai đã có nhà máy xử lý nước thải. 

Tìm hiểu thêm, nhóm phóng viên được biết cống hộp bằng bêtông cốt thép mà người dân cho là cống xả nước thải nói trên thực tế chỉ là cống tiêu nước mưa trong khu công nghiệp, nhưng đã bị biến thành đường cống xả nước thải chưa qua xử lý.

Theo quy định, nước thải của các nhà máy sản xuất trong khu công nghiệp này buộc phải qua hệ thống đấu nối và đưa vào nhà máy xử lý nước thải để xử lý trước khi thải ra môi trường.

Quy định là vậy nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện nghiêm chỉnh. Nước thải từ các nhà máy sản xuất sau khi được thu gom và đưa vào nhà máy xử lý nước thải để xử lý đạt tiêu chuẩn rồi theo ống xả bằng nhựa có đường kính 30cm đặt trong lòng cống hộp bằng bêtông thải ra môi trường bên ngoài. 

Vào thời điểm phóng viên có mặt tại hiện trường, ống nhựa không có nước thải, trong khi đó trong lòng cống bêtông có một lượng lớn nước thải đục ngầu, bốc mùi hôi thối, có cả dầu nhớt vẫn không ngừng thải ra môi trường. Rõ ràng đây là lượng nước thải chưa qua xử lý được doanh nghiệp nào đó trong Khu công nghiệp Bắc Chu Lai xả trực tiếp ra môi trường.

Theo đại diện người dân thôn Thọ Khương, nước thải chưa qua xử lý từ các nhà máy sản xuất trong Khu công nghiệp Bắc Chu Lai thường xả thải vào đêm tối và vào lúc trời có mưa lớn. Nước thải theo đường cống tiêu chảy lênh láng ra đồng ruộng vào tận khu dân cư. Nhiều người dân trong thôn đã dùng điện thoại di động để ghi lại những hình ảnh này.

Ông Trà Minh Lâm cho biết do cánh đồng Thọ Khương nằm ngay sát khu công nghiệp, hàng ngày mọi người đi làm đồng lội xuống mương về là bị ngứa chân, trâu bò uống nguồn nước kênh mương thường bị mắc bệnh, còn cá thì chết trắng bụng.

Hiện nay, 340 hộ dân với 1.100 nhân khẩu của thôn Thọ Khương chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn nước và khói bụi của các nhà máy. 

Đa phần người dân lo lắng không biết nguồn nước thải có độc hại hay không, nếu không được xử lý tốt sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của nhân dân. 

Nhiều người lo sợ ảnh hưởng đến sức khỏe đã bỏ ruộng không dám sản xuất, nhiều gia đình bỏ những giếng nước sử dụng từ bao đời để tìm nguồn nước khác phục vụ sinh hoạt hàng ngày.

Trước tình trạng này, người dân trong thôn đã nhiều lần dự định góp tiền và ngày công lao động để bít đường ống nhựa và lấp cả đường cống hộp không cho nước thải chưa qua xử lý chảy vào ruộng mà chảy ngược hoặc ứ đọng trong Khu công nghiệp Bắc Chu Lai, tuy nhiên chính quyền địa phương khuyên răn, ngăn chặn kịp thời nên hành động tiêu cực này chưa xảy ra.

Ngoài khói bụi độc hại, nước thải chưa qua xử lý, người dân nhiều nơi trong vùng còn phải chung sống với nhiều loại chất thải rắn chứa chất độc hại chưa qua xử lý. 

Điều đáng nói là ở nhiều nơi, người dân vẫn vô tư sống chung với chất thải nguy hại mà không hề hay biết. 

Mới đây, Cảnh sát Môi trường tỉnh Quảng Nam đã xử phạt Công ty giày Richker (hoạt động tại Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc) về hành vi bán trái phép chất thải chứa chất độc hại cho ông Trần Văn Quý ở thôn La Thọ 2, xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn. Hàng tấn bao bì, thùng kim loại đựng các loại hóa chất được ông Quý tập kết ngay trong khu dân cư. 

Việc mua bán này diễn ra trong thời gian dài với khối lượng lớn nhưng bản thân gia đình ông Quý và người dân xung quanh vẫn vô tư sống chung với chất nguy hại cho đến khi cơ quan chức năng phát hiện và xử lý, kho chứa bao bì, thùng kim loại chứa hóa chất của ông Quý mới bị trục xuất khỏi khu dân cư.

Chất thải các loại cần được xử lý trước khi đưa ra môi trường là điều kiện bắt buộc trong sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, vẫn còn không ít doanh nghiệp đã trốn tránh trách nhiệm này với môi trường sống của cộng đồng vì sợ tốn kém. 

Bởi vậy, bên cạnh việc quan tâm giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng dân cư, thì việc phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường sống có lẽ là vấn đề chưa bao giờ cũ./.
ĐOÀN HỮU TRUNG
(TTXVN)

Trang 1 trong tổng số 10